BÍCH CÂU Hội Ngộ – Phần 2

BÍCH CÂU Hội Ngộ – Phần 2

Nguyên bản tiếng Anh: LÊ THÁI BẠCH LAN1
Bản dịch tiếng Việt:  VersiGoo – thanhdiavietnamhoc.com

tiếp theo cho Phần 1:

    « Tôi đây, Hoàng thiên của tôi », cô gái nói bằng một giọng nhẹ nhàng và du dương. « Chàng đã đợi em quá lâu. »

    « Cô là ai, người phụ nữ đáng kính kia? » TÚ-UYÊN hỏi.

    « Tên khiêm tốn của em là GIÁNG-KIỀU và em là một nàng tiên. Có lẽ chàng có thể nhớ rằng chúng ta đã gặp nhau ở dưới tán cây đào nở rộ trong Lễ hội mùa xuân. Tình yêu của chàng đã dành cho và niềm tin của chàng cũng đã dành cho em, đã khiến Nữ hoàng Tiên nữ quyết định gửi em xuống đây làm vợ của chàng ».

    Bây giờ giấc mơ của người học giả trẻ tuổi đã được thực hiện và anh ta đã được đưa vào một thế giới hạnh phúc mới mẻ và niềm vui chưa hề biết. Ngôi nhà của anh ta giờ đã biến thành thiên đường bởi sự hiện diện ngọt ngào, đáng yêu của cô gái và bởi sự kỳ diệu từ tình yêu của cô gái.

    Anh ta yêu cô gái và tiếp tục dõi theo cô gái ở mọi nơi, quên cả sách vở và bỏ bê cả việc học. Khi GIÁNG-KIỀU trách mắng anh ta vì điều này, anh ta nhìn sâu vào mắt cô gái và nói: « Người yêu dấu của tôi ơi, tôi đã từng buồn và cô đơn. Nàng đã đến và thay đổi cuộc sống của ta. Nàng trông càng quyến rũ hơn với ta mỗi ngày, và thật tự nhiên khi ta khao khát được luôn ở gần nàng. Ta không thể giúp gì được. »

    « Chàng cần lắng nghe em nếu chàng muốn thành công ». Nàng tiên nói. « Đừng nhàn rỗi thêm nữa và hãy bắt đầu học lại nếu không em sẽ rời xa chàng. »

    Anh ta đã miễn cưỡng vâng lời cô gái nhưng đầu óc anh ta luôn xao lãng và cuối cùng anh ta đã uống rượu. Một ngày nọ, khi anh ta say khước, nàng tiên đã biến mất. Anh ta rất hối lỗi vì điều đó, và cầu nguyện để cô gái quay lại lần nữa, nhưng không có dấu hiệu nào của cô ấy.

    Sau đó, anh ta nhớ rằng cô gái đã ra khỏi bức tranh trên tường, và anh ta đến bên cạnh đó để cầu xin cô gái đi ra ngoài một lần nữa, nhưng cô gái đã không hề di chuyển.

    « Ơi GIÁNG-KIỀU xinh đẹp » anh ta nài nỉ cô gái, « Người này là nô lệ của nàng và cầu xin được sự tha thứ. Người này sẽ làm gì, nếu không có sự hiện diện yêu dấu và tình yêu ngọt ngào của nàng ? »

    Người phụ nữ vẫn không hề chuyển động nhưng TÚ-UYÊN không bỏ cuộc. Ngày qua ngày, anh ta đợi cô gái trở lại, bám víu mãi vào hy vọng. Anh ta thắp hương, cầu nguyện cho cô gái hết lần này đến lần khác, và đã sáng tác một bài thơ dài, ghi lại cuộc gặp gỡ tuyệt vời của anh ta với nàng tiên và bày tỏ sự sâu thẳm của tình yêu cùng mức độ buồn bã của anh ta: « Bầu trời cao, và biển rộng, và nàng tiên của tôi, người yêu dấu của tôi, tại sao nàng lại trốn đi ? … »

    Một lần nữa, anh ta đã nói chuyện với người thiếu nữ trong bức tranh, và hứa sẽ vâng lời cô gái, và thậm chí đã nói về việc tự tử.

    Cuối cùng, GIÁNG-KIỀU lại bước ra khỏi bức tranh, và vẫn với vẻ giận dữ: « Hoàng Thiên ơi, nếu lần này chàng không nghe lời em », cô gái nói, « Em buộc phải rời xa chàng mãi mãi. Em nhất nhất sẽ vậy. »

    TÚ-UYÊN đã trao cho cô gái lời hứa long trọng và thề rằng anh ta sẽ không bao giờ làm trái ý cô gái nữa. Sợ mất cô gái, anh ta bắt đầu học hành chăm chỉ và đã vượt qua kỳ thi một cách xuất sắc, đạt đủ điều kiện làm quan.

    Chẳng mấy chốc sau đó, một đứa bé trai đã được hạ sanh, và một y tá được thuê để chăm sóc cho bé.

    Một ngày nọ, khi cậu bé đã được hơn một tuổi, bầu không khí đột nhiên trở nên hiu quạnh, song mặt trời tỏa sáng rực rỡ hơn bao giờ hết và một số điệu nhạc thiên đường vọng lại từ xa. GIÁNG-KIỀU tỏ vẻ nghiêm túc và nói với chồng: « Hoàng Thiên ơi, em đã sống với chàng hơn hai năm. Thời hạn của em trên trái đất này đã hết, nó đã làm Nữ hoàng hài lòng và gọi em trở lại Thiên đường ngay bây giờ. Xin vui lòng, dù trông có vẻ chán nản và chấn động. Song tên của chàng cũng nằm trong danh sách những người bất tử. Vì vậy, chúng ta hãy cùng nhau lên thiên đàng. »

    Sau đó, cô gái quay sang người y tá và nói: « Sự giàu có ở trần thế của chúng ta bây giờ sẽ là của bạn. Xin hãy nuôi dạy con trai của chúng tôi, và khi nó vượt qua tất cả các kỳ thi của mình, chúng tôi sẽ quay lại để đưa nó lên thiên đường với chúng tôi. »

     Và cô gái đã thắp một nén nhang, thì thầm những lời cầu nguyện, và cùng một lúc, hai con thiên nga kỳ diệu, với những vòng hoa vàng quanh cổ với những ngôi sao lấp lánh trên đầu, xuất hiện trước mặt họ.

    Họ đã trèo lên những con chim và bay lên bầu trời xanh ấm áp. Âm nhạc ngọt ngào và thiên thể tràn ngập bầu không khí như thể các vị thần vui mừng khi đón nhận được họ trên Thiên đàng. Dân làng đã nhìn thấy điều này và đã xây dựng một tượng đài để thờ TÚ-UYÊN ở ngay tại ngôi nhà của ông ấy.

    Và ngày nay, chùa Từ-Uyên7 vẫn còn đó, ở tại cùng một địa điểm, ở Hà Nội, mặc dù cầu Đông8sông Tô-Lịch6 đã biến mất theo thời gian.

MỜI XEM:
◊  BÍCH CÂU Hội ngộ – Phần 1.
◊  Truyện thơ BÍCH CÂU Kỳ ngộ.

GHI CHÚ:
◊  Nguồn nội dung và hình ảnh: Vietnamese Legends – Mrs. LT. BẠCH LAN, NXB. Kim Lai Ấn Quán, Saigon 1958.
◊  Chú thích văn liệu, hình ảnh sê-pia hóa và bản dịch tiếng Việt (với công cụ VersiGoo hỗ trợ biên dịch) do Ban Tu Thư – thanhdiavietnamhoc.com thiết lập.

CHÚ THÍCH:
1 :  Lời nói đầu của R.W. PARKES giới thiệu Tuyển tập Vietnamese Legends của tác giả Mrs. LT. BẠCH LAN: “Bà Bạch Lan đã tập hợp một Tuyển tập các truyền thuyết Việt Nam thú vị, mà tôi vui mừng viết một lời tựa ngắn gọn. Những câu chuyện này, được tác giả dịch tốt và đơn giản, có sức hấp dẫn đáng kể, xuất phát một phần không nhỏ từ ý nghĩa mà chúng truyền tải về các tình huống quen thuộc của con người với những trang phục kỳ lạ. Ở đây, trong khung cảnh nhiệt đới, chúng ta có những người yêu chung thủy, những người vợ ghen tuông, những người mẹ kế không tử tế, những thứ mà rất nhiều câu chuyện dân gian phương Tây cũng được tạo ra. Hơn nữa có một câu chuyện thực sự như truyện Cinderella. Tôi tin tưởng rằng qua cuốn sách nhỏ này sẽ tìm thấy được nhiều độc giả và kích thích được sự quan tâm thân thiện ở một đất nước mà những vấn đề thời nay được biết đến nhiều hơn so với văn hóa quá khứ của cô ấy. Sài Gòn, ngày 26/2/1958″. (Bản dịch tiếng Việt: Vi-VersiGoo – thanhdiavietnamhoc.com)

2 :  Bích Câu là một địa danh cũ thuộc Hà Nội – hiện nay ở đây có một con phố tên Bích Câu (là con phố cắt ngang, nối phố Đoàn Thị Điểm và phố Cát Linh). Phường Bích Câu theo phỏng đoán là cả một khu vực ôm lấy nội thành phía Nam, Tây nam và Tây bắc vòng Hoàng thành Thăng Long. Bích Câu (theo bản đồ hiện nay) gồm các phố Quán Thánh, sang Hùng Vương, Nguyễn Thái HọcQuốc Tử Giám, xuôi nửa đường Tôn Đức Thắng, xuống các làng Hào Nam, Giảng Võ, rồi ngang về phía cuối các trục đường Cát Linh, Kim Mã – cả Thủ Lệ, Đội Cấn, Hoàng Hoa Thám và một phần thuộc đất làng Thụy Khuê.

    Bích Câu (碧溝) theo chữ Hán có nghĩa là “ngòi biếc“, ám chỉ ngày xưa ở đây có một con ngòi (kênh, mương) nước trong xanh chảy ra hồ Giám, Lương Sử, Ngô Sĩ Liên tới hồ Kim Âu gần phố Khâm Thiên. Tương truyền chúa TRỊNH SÂM đã từng đi thuyền từ Phủ chúa (gần ngã tư Quang Trung, Tràng Thi) theo một con ngòi đến hồ Kim Âu, qua ngòi biếc này ghé đến nhà Tham tụng NGUYỄN KHẢN (anh ruột của NGUYỄN DU) ở gần Văn Miếu-Quốc Tử Giám.

    Phường Bích Câu có từ rất lâu trước khi LÝ CÔNG UẨN dời đô về Đại La để lập Thành Thăng Long. Từ thời nhà Lý trở đi, phường Bích Câu phát triển thành một trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế bậc nhất ở Thăng Long. Thời hoàng kim của Bích Câu kéo dài hàng thế kỷ từ thời trung đại cho đến hết thế kỷ 19. Theo Văn Kỳ Trung hưng, sinh hoạt của phường Bích Câu náo nhiệt nhất vào những năm 40 của thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 19. Các sinh hoạt ở đây đã sớm hội nhập văn minh phương Tây và cả văn minh thời Minh, Thanh, mạnh nhất là thời Khang Hy, Càn Long, Trung Quốc. Khu vực này tập trung đa phần các vua chúa, quan lại và danh sĩ, bác học từ thời Văn Lang-Thục Phán. Gia đình của NGUYỄN DU cũng ở phường Bích Câu, khi đó là một đại gia đình quý tộc.

    Cái tên Bích Câu đã xuất hiện trong các câu truyện dân gian từ xa xưa. Các sách về địa chính Tống Bình, Đại La đã nói đến Bích Câu với sự tích văn hóa và lịch sử hình thành đặc biệt của nó. Trước đây Bích Câu chỉ được gọi là Trại, sau đổi là Phường. (Nguồn:  wikipedia.com – Bản dịch tiếng Việt: Vi-VersiGoo – thanhdiavietnamhoc.com)

3 :  Chùa Tiên Tích (110 Lê Duẩn, Phường Cửa Nam, Quận Hoàn Kiếm) có lịch sử ra đời vào đầu đời vua Lê Cảnh Hưng (1740-1786). Chùa nằm trong khu vực Cửa Nam, một  trong bốn cửa ngõ của tòa thành Thăng Long xưa.

    Tương truyền vào đời nhà Lê, có một hoàng tử đi chơi bị lạc được các tiên đưa về nên nhà vua dựng ngôi chùa này để tạ ơn các tiên. Lại có truyền thuyết kể lại rằng, nhà vua đi chơi hồ Kim Âu thấy có vết tích của Tiên giáng trần hiện ra ở gần hồ bèn cho xây dựng ngôi chùa đặt tên là Tiên Tích (vết tích của Tiên).

    Chùa được xây theo hình chữ Đinh gồm Tiền Đường, Thiên HươngThượng điện. Kết cấu ở đây chủ yếu là gạch, ngói và gỗ. Trong chùa, hệ thống 5 bệ thờ Phật được xếp đặt cao dần tại Thượng điện, trên đó bài trí các pho tượng của Phật giáo. Phần lớn các pho tượng này được làm dưới triều Nguyễn, thế kỷ thứ XIX.

     Chùa Tiên Tích được được Chúa Trịnh mở rộng vào đầu đời vua Lê Cảnh Hưng (1740) và là một thắng tích trong vùng. Chùa được khôi phục vào đời vua Minh Mạng thứ 14 (1835) và liên tục được tu sửa, hoàn thiện. Theo sử sách xưa viết lại, chùa Tiên Tích ngày xưa rất rộng lớn, sân chùa lát đá, phong cảnh hữu tình, có hồ nước xanh mát, có hương sen thơm ngát. Chùa Tiên Tích đã trải qua nhiều biến cố, thăng trầm của lịch sử, với nhiều biến cố của thời gian, tuy đã làm thay đổi nhiều về diện mạo, nhưng đến nay vẫn mang đậm giá trị về mặt lịch sử, khoa học và nghệ thuật.

      Sự có mặt của di tích đến hôm nay cùng các di vật như chuông đồng, bia đá là nguồn tư liệu quý phản ánh sự tồn tại không thể thiếu của đạo Phật trong đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân. Đây cũng là nguồn tư liệu quý cho các nhà nghiên cứu tìm hiểu về Phật giáo Việt Nam, về lịch sử Thăng Long-Hà Nội. Nó giúp chúng ta hình dung được cảnh quan của mảnh đất kinh kỳ, hiểu thêm phần nào về đời sống cung đình, vua chúa ngày xưa. Cho đến nay, về mặt kiến trúc, nghệ thuật, chùa Tiên Tích còn bảo lưu được khá nguyên vẹn về hình thức, kết cấu, kiến trúc tôn giáo dưới thời Nguyễn. Hệ thống tượng tròn mang giá trị thẩm mỹ cao, các pho tượng của chùa được gia công tỷ mỷ, công phu, giàu tính sáng tạo. Các hiện vật này ngoài giá trị nghệ thuật còn là khối di sản quý giá kho tàng di sản văn hóa nước nhà. (Nguồn: hanoimoi.com.vn – Tuyết Minh)

4 :   … đang cập nhật …

BAN TU THƯ
07 /2020

(Visited 12 times, 1 visits today)