Đàn TÍNH TẨU: NHẠC CỤ TRUYỀN THỐNG của NGƯỜI THÁI TRẮNG khu vực MƯỜNG SO,  Phong Thổ, Lai Châu

Đàn TÍNH TẨU: NHẠC CỤ TRUYỀN THỐNG của NGƯỜI THÁI TRẮNG khu vực MƯỜNG SO, Phong Thổ, Lai Châu

NÔNG VĂN NHAY

(Nghệ nhân chế tác, truyền dạy và biểu diễn cây đàn tính tẩu, Hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Lai Châu, Hội viên Hội Di sản Văn hoá Việt Nam tại Lai Châu)

1. Vài nét về người Thái Mường So

     Từ xưa đến nay người Thái Trắng thường sống ở những nơi thung lũng, lòng chảo, trên những bãi bằng ven sông, ven suối. Ở đâu có đất bằng, có dòng nước là nơi đó có người Thái lập cư, có những cánh đồng lúa nước của người Thái.

     Dân gian Thái có câu:

Xả kin toi phạy
Tạy kin toi nặm

Nghĩa là:

Xá ăn theo lửa
Thái ăn theo nước

     Ngày xưa, Xá là tên gọi của những tộc người anh em của người Thái, những cư dân ở trên vùng núi cao chuyên phát rừng, đốt nương trồng ngô lúa vào rừng săn bắt thú và thu hái lâm thổ sản nên người Xá nói “Xá ăn theo lửa”. Trong khi đó, người Thái có truyền thống khai hoang đắp đập, làm mương phai, làm guồng lấy nước trồng lúa nên người Thái tự cho mình “ăn theo nước”.

     Không chỉ có vậy, những khi nông nhàn, con trai, con gái Thái luôn biết ra sông, suối đánh bắt tôm cá. Vì vậy người Thái có câu “Nặm hảnh noọng pay thi; năm noọng pi pay sỏn”, nghĩa là “Sông với (nước) anh đi quăng; suối cạn em đi xúc”. Các thiếu nữ Thái không chỉ giỏi nấu nướng, giỏi chế biến các món ăn mà còn nổi tiếng về khả năng trồng bông, dệt vải làm đẹp cho mình. Từ xa xưa qua lao động sản xuất họ đã sáng tạo sản sinh ra những giai điệu dân ca, dân vũ, dân nhạc gắn liền với lao động sản xuất.

     Trong lao động sản xuất của nhà nông có bao nhiêu công việc thì họ sáng tạo ra bấy nhiêu bài hát, bài múa, bài nhạc như đi làm có nón, có khăn, có quạt,… họ đã sáng tạo ra múa nón, múa quạt, múa khăn,… Họ vừa là người sáng tạo, vừa là người thưởng thức cũng đồng thời là người duy trì bảo tồn phát huy, từ thế hệ này sang thế hệ khác.

     Trước năm 1954, Mường So gồm 3 khu dân cư: Khổng Tở, Khổng Bát và Khổng Lào, thuộc huyện Phong Thổ. Ba khu dân cư này được ví như hin xam (ba chân) vững chắc như kiềng ba chân. Từ ngày hoà bình lập lại đến nay, từ ba Khổng đó đã phân chia, phát triển thành nhiều thôn, bản, xã, như các xã Mường So, Khổng Lào, Nặm Xe, Bản Lang. Các bản làng của Thái Mường So sống bao quanh chính quyền xã và huyện. Chính quyền đem lại sự bình đẳng, ấm no hạnh phúc và văn minh cho mọi người.

     Hiện nay Mường So là một xã vùng thấp của huyện Phong Thổ, phía Đông giáp với xã Nặm Xe (dãy núi Hoàng Liên Sơn), phía Tây giáp thị trấn Phong Thổ, phía Bắc giáp xã Khổng Lào, phía Nam giáp dãy núi Pu Củng-Pu Sam Cáp, thị xã Lai Châu, chiều dài khoảng 12km. Tổng diện tích tự nhiên của xã là 3.796,8ha, trong đó diện tích canh tác là 920ha. Xã có 11 thôn, bản. Tính đến tháng 12-2011 toàn xã có 1.298 hộ với 5.064 nhân khẩu, gồm dân cư của 6 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó người Thái chiếm 73%, người Kinh 20%, người Giáy 0,5%, các dân tộc khác 0,2%. Sản xuất nông nghiệp chiếm 80% cơ cấu kinh tế toàn xã. Mường So là một trong những cái “nôi” văn hoá truyền thống của người Thái, nơi có chữ “Thái cổ” và cây đàn “tính tẩu”, cả hai đang mai một và đang có nguy cơ mất hẳn. Vì vậy, cần những biện pháp để khôi phục và bảo tồn khẩn cấp.

2. Cây đàn tính tẩu

      Chuyện kể rằng ngày xưa, ở một bản nọ có một anh chàng người Thái nghèo khó tên là Tính. Anh mồ côi cả cha lẫn mẹ từ nhỏ, không nhà cửa, không anh em họ hàng. Anh kiếm củi, bắt cua, mò cá kiếm sống qua ngày rồi cũng lớn lên theo năm tháng. Ở đoạn suối Nặm Lùm xã Mường So có một hòn đá cuội to bằng 2-3 cái nhà sàn của người Thái. Người dân gọi là Hin bát có nghĩa là hòn đá có vết sẹo. Hòn đá sống lâu đời, cây cối lau sậy mọc um tùm thành hòn đảo nhỏ thanh vắng. Tính lấy chỗ này làm nơi nương thân. Hàng ngày anh đi kiếm củi, bắt tôm cá rồi về chỗ hòn đá cuội ăn nghỉ.

     Một hôm anh đi quăng chài về thấy một quả bầu mắc trên cành cây bên lều. Anh ngạc nhiên: Ô hay, cơn gió nào đưa quả bầu đến đây? Tính lấy quả bầu về cắt làm hai phần, phần trên anh đem ném xuống suối, phần dưới anh đắp cán vào làm thành cái gáo múc nước. Anh còn cẩn thận chọn đoạn cành cây có chạc làm cán gáo để khi dùng xong có thể treo móc lên một cách dễ dàng. Gia tài của Tính lúc này chỉ có cái chài để bắt cá, cái gáo để múc nước. Tính quý cái gáo bầu như vật báu trong nhà. Có một hôm Tính đi quăng chài về, phơi chài, kéo dây chài ngoắc qua cái gáo. Ban đêm thanh vắng, con ve sầu và những côn trùng bay qua bay lại vấp vào dây chài phát ra những âm thanh là lạ, hay hay. Nằm nghe những âm thanh ấy Tính thốt lên: “Đây rồi, bạn tâm tình của tôi đây rồi”. Thế rồi anh hì hục đẽo gỗ mỏng làm mặt đậy vào quả bầu, làm con ngựa, làm ba dây khoá dây đàn,… Anh chăng 3 sợi dây đàn rồi vừa gẩy vừa so dây. Tiếng đàn hay quá làm anh vui mừng xốn xang trong lòng. Anh tập đánh đàn, tập hát. Anh nghĩ ra phải đem đàn đến nhà người mình thầm yêu đánh cho nàng nghe. Do đi đường xa, khi anh đến nơi nàng đã đi ngủ. Ngồi dưới gầm sàn nhà nàng anh đánh đàn mãi mà nàng vẫn không dậy. Anh buồn lắm, vừa đàn vừa hát:

Tốc he bớ đẩy pa ẹo pốn
Hệt na bớ đẩy khảu ẹo pốn
Tói tính tẩu noọng sao bơ phắng ẹo pẩn
Tính Tương bớ man nẩu
Tính tẩu bơ man sao
Pa chảu nao hặn hung
Tính tẩu xé sao (Tính tẩu chọc sàn).

 Nghĩa là:

Quăng chài không được cá cũng buồn
Làm ruộng không được lúa cũng buồn
Gẩy đàn em không nghe cũng buồn
Buồn vì đánh đàn chưa hay, âm vang chưa chuẩn.

Người Thái với cây đàn tính tẩu. Ảnh Việt Phú. Nguồn: https://vanhoanvietnam.blogspot.com

     Thế là con trai, con gái bản trên, mường dưới còn trêu ghẹo “Đàn Tính không sát gái, đánh đàn thâu đêm không ai nghe, tính tẩu chọc sàn, Tính tẩu trêu ghẹo gái”. Anh Tính tức lắm, buồn lắm nhưng không nản chí. Một hôm anh đến gặp già làng, gẩy đàn cho già nghe. Già làng nói “Ừ hay đấy, nhưng tiếng đàn như thế thì chưa được”.

Già làng bảo anh rằng:
Tép tính tép mang măn
Căn tính căn mang lẹ
Xe tính xe khau khai
Sai tính sai đải lương
Sai tương san ngân hoi
Tói nọi há năn lai.

Nghĩa là:

Cần đàn gỗ dẻo
Mặt đàn gỗ xốp
Khoá đàn bằng sừng trâu
Dây đàn bằng sợi tơ tằm
Dây trong, dây ngoài quý như vàng
Gẩy khe khẽ cũng vang xa.

     Nghe theo lời già làng dạy bảo anh hì hục làm, thế rồi thành công. Anh vui mừng lắm, nâng niu chiếc đàn như vật báu.

Tiếng đàn hay rồi, cây đàn cũng đẹp, anh lại đem đi đánh cho nàng nghe, đến nơi nàng lại ngủ rồi. Anh lại đánh đàn dưới gầm sàn, vừa đánh vừa hát để đánh thức nàng dậy. Bài ca có đoạn, tiếng đàn có câu:

Tứn ế lả tứn ế tứn khót phum
Tứn ủm sở
Tẩu ướng ửa ma nọ
Khảm khớp tu coi dóng
Khảm khớp tóng coi dượn
Tấn khay tu pẻn mạy măn phá xí
Tấn khay pẻn mạy mí phá song
Mắt khốp pánh ma lỏ
Mạnh khốp lả ma lỏ
Cáy bản ứn khăn san
Cáy lúng ta khăn tảu
Cáy chủm pí nọng khăn súng đô nọn
Tô dú thẳm to hon cọ nọn
To dú cón tô cáy thớn cọ nọn
Nhắng bớ nọn to song hau cải song ha Tân
mạ khổng ty bơn hai, tí pai cháu bơn sảu Tảu
cang khổng đăng phay
Sặt khảu phay ún phay
Kim canh cay ún tọng
Đảy pá đởi nọng pệng kẻo ún chaư.

Nghĩa là:

Dậy đi em ơi dậy đi
Dậy chải đầu búi tóc
Dậy rón rén qua cửa buồng
Đem theo chiếc áo ấm
Ghé qua cửa gỗ lát bổ tư
Ghé qua cửa Pơ mu bổ đôi
Xuống đi em xuống sàn đi
Bọ đất muốn cắn anh lắm lắm rồi
Gà bản gáy đăm chiêu
Gà bản trên gáy đáp
Gà họ nội gáy tiễn đưa giấc
Gà họ ngoại vỗ cánh chào bình minh
Gà rừng đậu trên cành si cũng yên giấc
Chưa ngủ chỉ còn đôi ta
Em hãy xuống sàn đốt lửa giữa sân anh hơ áo
Đun lửa bên sàn để tâm tình
Ngồi gần lửa ấm thân
Ăn canh rêu ấm bụng
Cùng tâm tình thấm lời yêu.

     Thế là họ yêu nhau kết thành đôi vợ chồng. Từ đó anh Tính mồ côi nghèo khó chăm lo hạnh phúc, khéo tay hay làm. Cây đàn của anh Tính đã có tiếng vang bản gần mường xa, các chàng trai bản trên mường dưới tấp nập đến với Tính để học làm đàn, học đánh đàn. Đàn Tính đã xuất hiện, tồn tại và phát triển theo thời gian.

Ảnh: Đàn Tính Tẩu – Nguồn: www.facebook.com/congdongthaitrangphongtho

     Các buổi tối dú khống – hạn khống, các chàng trai, cô gái Thái đốt lửa ở sân trong bản kéo sợi, thêu thùa, dệt vải thổ cẩm, họ đàn hát với nhau, họ đàn múa với nhau. Người Thái có thơ rằng:

Mường So là mường ải, mường nọng
Phải bơ nhỏm há pin đanh đào
...

Nghĩa là:

Mường So là mường của anh của em
Vải chưa nhuộm đã có hoa vân
Các chàng trai đã biết dùng cây đàn Tính
tẩu nói thay lời mình
Cùng tâm tình với người bạn gái
Tâm tình với noọng sao.

     Cây đàn Tính tẩu đã gắn kết bao đôi trai gái thành vợ, thành chồng. Thế rồi bản mường bị lâm nguy, một cơn đại hồng thuỷ đột ngột ập đến cuốn trôi nhà cửa ruộng vườn, người, trâu, bò, lợn,… Cỏn hin bát, hòn đá có vết sẹo cũng bị nước cuốn trôi. Nhiều vật vô tri, vô giác bị nước cuốn trôi đi tận mường người Kinh ở miền xuôi. Lúc mọi người đang khắc phục thiên tai, có người bảo hin bát, hòn đá có vết sẹo trôi đi bị mắc lại tại ngã ba sông Đà và Sông Nậm Na. Nghe vậy anh Tính cơm đùm, cơm gói tìm đến nơi. Tính nhận ra rồi reo lên: “Đúng rồi, hin bát đây rồi. Hòn đá có vết sẹo đây rồi. Ôi hin bát ơi hin bát, sao hin bát nỡ bỏ tôi đi, nỡ bỏ Mường So mình đi, bỏ noọng sao mình đi. Tôi không thể nào đem hin bát về chỗ cũ được. Hin bát cứ ở đây, tôi về sẽ làm nhà bên bờ búng bát để hương khói cho hin bát.

     Hòn đá cuội vốn nửa chìm nửa nổi trên mặt đất. Khi bị lũ cuốn trôi phần đá chìm dưới đất bị nhô lên tạo thành vũng nước to mà người Thái gọi là búng nặm hin bát, hay búng bát. Anh Tính làm nhà ở đó, bên bờ búng bát, được hin bát phù hộ làm ăn khấm khá dần, nhiều người về làm nhà ở theo thành bản lớn. Từ đó nguời Thái nơi đây gọi là bản Khổng Bát, hay là thôn Tây An, xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

     Cây đàn của anh Tính đã phổ biến đến tận các bản mường xa xôi hẻo lánh. Một hôm có anh bạn người Kinh ở miền xuôi lên chơi tình cờ vào nhà anh Tính, thấy cây đàn treo trên vách nhà. Anh bạn người Kinh ngắm mãi cây đàn rồi lấy nửa quả bầu trong túi ra đậy vào phần thân đàn của anh Tính. Anh hỏi cái phần vỏ bầu của tôi có phải từ quả bầu này ra? Anh người Kinh nói tôi đi bắt cá thấy nó nổi bồng bềnh trên sông, thấy là lạ hay hay tôi nhặt về nhà để chơi.

     Anh Tính nói quả bầu này tôi cắt bỏ phần trên lấy phần dưới làm cái đàn này đấy. Anh bạn người Kinh thấy đàn có 3 dây liền ngỏ lời xin một dây. Anh Tính đồng ý tháo bớt một dây cho anh bạn người Kinh. Từ đó cây đàn Tính của người Thái Trắng Mường So chỉ có 2 dây. Anh bạn người Kinh về xuôi, với sợi dây đàn và phần trên của quả bầu, anh làm thành cây đàn một dây. Ngày nay người Kinh gọi cây đàn đó là đàn bầu. Sau đó, anh bạn người Kinh lên thăm lại anh Tính để tạ ơn. Họ tâm sự với nhau về 2 cây đàn: đàn Tính – đàn Bầu. Tính tẩu có 2 dây khi gẩy âm thanh vang xa khắp các bản mường. Đàn Bầu chỉ có một dây gẩy qua một thoáng làm say lòng người.

Quả bầu người Thái gọi là má tẩu
Tính là đàn do anh Tính chế tác
Bản mường ban tặng cho anh Tính
Lấy tên là đàn Tính tẩu (đàn của Tính)
Có nơi gọi đàn Then, có nơi gọi đàn tính
Người Thái trắng vùng Mường So, Phong Thổ gọi là đàn Tính tẩu.

     Qua thời gian, cây đàn tính tẩu đã phát triển lên tầm cao qua các thời kì phát triển lịch sử, xã hội của người Thái. Những người nông dân lao động đã cùng nhau sáng tạo ra các làn điệu dân ca, dân vũ sử dụng đàn Tính làm nhạc cụ. Các điệu múa nổi tiếng của người Thái như: múa nón, múa quạt, múa khăn,… đều do cây đàn Tính tẩu đệm. Với trên 30 bài múa thì có trên 30 bài nhạc đệm. Và các giai điệu dân ca Thái cũng có bản nhạc riêng cho từng giai điệu.

Ảnh: Nghệ nhân – Nông Văn Nhay – Nguồn: www.facebook.com/congdongthaitrangphongtho

     Người Thái không có sử sách ghi chép thành bản nhạc, các bài hát, các điệu múa,… Tuy nhiên, các bản nhạc, các bài hát, các điệu múa của người Thái vẫn truyền từ đời này sang đời khác. Họ truyền dạy nhau bằng cách truyền miệng, truyền tay. Cách dạy và học của người Thái gọi là “ép khạm tính, bó khạm tính” (nghĩa là: dạy lời đàn tính tẩu).

     Cây Tính tẩu đã thực sự thành nhạc cụ truyền thống của người Thái, được người Thái sử dụng để đệm cho múa, cho hát, cho các ngày hội của bản mường, như lễ hội Kin pang Then, lễ hội cốm, lễ hội xên bản, xên mương, các dịp múa hát tập thể. Du khống (hạn khống), tết Nguyên đán, đám cưới, mừng nhà mới,… tất cả đã được bảo tồn và phát triển từ thế hệ này sang thế hệ khác qua các thời kì phát triển lịch sử xã hội của người Thái. Trong kháng chiến chống thực dân từ năm 1950 – 1954 thanh niên người Thái đã lợi dụng các bài hát, các điệu múa tập thể, biến du khống thành nơi hội họp, dùng cây đàn Tính che mắt địch, đi đến bản trên mường dưới đưa thư, báo tin cho cán bộ Việt Minh.

     Năm 1953 – 1954, trong chiến dịch Điện Biên Phủ đoàn dân công huyện Phong Thổ tham gia chiến dịch, trai luôn mang theo cây đàn Tính, gái đem theo nón che mưa, che nắng. Mỗi khi đến chỗ nghỉ họ lại đàn hát với nhau. Đoàn dân công thành đoàn văn nghệ lưu động. Những tay đàn giỏi lúc bấy giờ có các ông Mào Văn Phiên, Nông Văn Tóm, Mào Văn Khồ, Tao Văn Khôn, Đèo Văn Hé,…

     Những ngày đầu giải phóng Điện Biên Phủ cả vùng Tây Bắc múa hát mừng chiến thắng; cả ngày cả đêm ở Phong Thổ, cây đàn Tính cùng nhân dân các dân tộc hát, xoè thâu đêm mừng chiến thắng, mừng hoà bình lập lại. Phong trào văn hoá, văn nghệ được Đảng, Chính phủ đặc biệt quan tâm. Đã có biết bao nhiêu đợt liên hoan văn nghệ, hội diễn liên thôn, liên bản, liên xã,… được tổ chức. Năm 1962 huyện Phong Thổ cử đoàn văn nghệ quần chúng tham dự hội diễn nghệ thuật quần chúng toàn miền Bắc tại Hà Nội. Phong Thổ có 4 tay đàn giỏi là Nông Văn Nhay vàng Văn Thầu, Hoàng Văn Nghíu, Mào Văn Lốm cùng 8 cô gái Thái múa giỏi. Đoàn văn nghệ quần chúng Phong Thổ đoạt nhiều giải, đạt cả huy chương vàng, bạc cho cá nhân và tập thể.

     Từ khi có Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII, vốn văn hoá, văn nghệ dân tộc được khôi phục phát huy. Phong trào văn hoá, văn nghệ quần chúng được đẩy mạnh, nơi nào có bản, có khu dân cư, có đội văn nghệ là có đàn Tính.

     Trong những năm gần đây, khi đất nước càng ngày càng phát triển, phong trào văn hoá, văn nghệ cũng phát triển lên tầm cao mới, vừa tiếp thu tinh hoa mới, thưởng thức nhiều chương trình dân tộc và hiện đại, các nhạc cụ tân tiến, bản nhạc, điệu múa đã được ghi âm, ghi hình,… du nhập vào tận bản mường vùng cao hẻo lánh, cây đàn Tính đang có nguy cơ mai một. Nhiều bài hát, điệu múa dân gian đã được các nhạc cụ khác thay thế. Cây đàn Tính truyền thống không được lớp trẻ quan tâm, không được lớp già phát huy. Từ năm 1994 đến nay, hội diễn nghệ thuật quần chúng cấp huyện, cấp tỉnh dần thiếu vắng cây đàn Tính. Có chăng các nhạc cụ truyền thống độc đáo dần biến thành đạo cụ cầm tay để múa, để hát,… Cây đàn Tính đã dần bị các nhạc cụ tân tiến khác thay thế. Những người biết chơi Tính tẩu thành thạo ở huyện Phong Thổ nói riêng và tỉnh Lai Châu nói chung chỉ đếm trên đầu ngón tay, mà đều là lớp người trung cao tuổi, lớp trẻ không mấy ai biết, ai học chơi đàn tính.

     Mỗi chúng ta hãy lắng nghe sự kêu cứu của cây đàn Tính tẩu. Chúng ta cùng chung tay, chung sức níu cây đàn Tính tẩu ở lại gắn bó với điệu hát ính lả ơi, với những điệu xoè không tuổi với noọng sao (em gái) Mường So.

     Các chàng trai Mường So hãy gắn bó – nâng niu cây đàn, dùng lời cây đàn thay lời mình tỏ tình với noọng sao (em gái ).

   Sặt khảu pháy ún pháy
Kin canh cạy ún tọng
Pá đởi noọng pẹnh kẻo ún chaư.

Nghĩa là:

Ngồi gần lửa ấm thân
Ăn canh rêu ấm bụng
Cùng tâm tình thấm lời yêu.

     Mỗi chúng ta cùng ngành văn hoá sớm có giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá tộc người Thái nói chung và cây đàn tính tẩu nói riêng. Nếu mọi người không chung tay, góp sức để giữ gìn thì cây đàn Tính tẩu truyền thống độc đáo của người Thái sẽ có nguy cơ mai một, mất hẳn, mà mất từ trong nhà nghệ nhân mất đi.

     Nếu để điều đó xảy ra thì chúng ta sẽ có lỗi với con cháu, với dân tộc quê hương đất nước.

     Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về xây dựng phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tác giả bài viết là nghệ nhân chế tác, truyền dạy và biểu diễn cây đàn Tính tẩu truyền thống với tâm huyết của mình, sự giúp đỡ tạo điều kiện của Phòng Văn hoá huyện Phong Thổ, sự đồng thuận của Sở Văn hoá – Thông tin – Du lịch tỉnh Lai Châu, sự giúp đỡ của cấp uỷ chính quyền nhân dân địa phương cơ sở, đã mở nhiều lớp truyền dạy lưu động từ thiện.

Ảnh minh họa: Ban Tu thư thiết lập hình ảnh.

(Visited 490 times, 1 visits today)