Mô tả, Mô hình và Mô phỏng

Mô tả, Mô hình và Mô phỏng

ĐÀO VĂN SOẠN1
Tác giả gửi bài qua email bantuthu1965@gmail

     Ngôn ngữ có 3 khái niệm đơn giản, vừa bao quát, vừa cụ thể mà nếu ta sử dụng chúng để lý giải những gì đã – đang – và sẽ diễn ra thì có thể sẽ làm đơn giản được những vấn đề phức tạp. Đó là các khái niệm: mô tả, mô hình, mô phỏng.

      Tự ta mô tả hay nhờ các công cụ, phương tiện khác, hay do người thân quen mô tả. Công nghệ thông minh ngày nay đã mô tả được quá khứ, mô tả những gì đã xảy ra làm cho ta cảm thấy được như là đang sống ở trong thời đại đó. Nhưng! khi sa đà vào sự mô tả thì ta như bị ngập chìm vào trong khối dữ liệu; nên đã có mô hình xuất hiện. Mô hình rất đơn giản nhưng nó khái quát được những gì phức tạp, nó làm thể hiện được gọn gàng mọi sự, làm dễ nhớ, dễ tưởng tượng, dễ suy tư. Nhưng! để làm gì, để mô phỏng, để dự báo, dự kiến hay dự định những gì sẽ có, sẽ diễn ra hay phải diễn ra? Sử học mô tả trái đất vào thời điểm hàng tỉ năm về trước, hay mô tả loài người vào hàng triệu năm trước, hay mô tả Homo sapiens 2 thuộc thế hệ hàng trăm nghìn năm xưa, … Các mô hình được dựng lên và các mô hình nào đã tiêu tan, mô hình nào còn đang tồn tại, mô hình nào sẽ mất đi, mô hình nào rồi sẽ xuất hiện?

      Mặt khác! Các sự mô phỏng có thể sai, có thể thất bại nhưng người ta cứ định hình, cứ mơ tưởng, cứ ao ước, cứ dự định. Mô tả, mô hình, mô phỏng không ở yên một chỗ! Có khi là một sự mô tả tỉ mỉ những dự định, sự mô hình hóa những dự án, và cũng có khi là sự mô phỏng của những mô hình chưa hề có hay đã có – nhưng chưa thể chắc chắn được rằng hình thù, kết cấu của nó như thế nào? nên cần phải mô phỏng mô hình đó qua nhiều lần để mong rằng có thể tìm ra được một mô hình đúng nhất, hợp lí nhất.

      Muôn vàn sự vật, muôn vàn sự việc… luôn cần có một cái tên phù hợp để dễ gọi, dễ suy tư, dễ tìm ra đường đi lối lại của chúng (mà người ta hay gọi là nguyên lý). Cần mô phỏng những gì để nó sẽ thành hiện thực. Đây thật sự là cái lõi của hạnh phúc, thịnh vượng (khi ta cần là có, khi ta muốn là được! đương nhiên cần phải tôn trọng nguyên lý của Trời đất, nguyên tắc của con người).

Lỗi mô phỏng!

     Một câu chuyện về sự tự tưởng tượng! – khi tan xuất chiếu ở một rạp xem phim điện ảnh về ngôi sao võ thuật Hồng Kông Lý Tiểu Long 3, một chàng trai đã được truyền cảm hứng từ bộ phim đã nói to lên “Ta là Lý Tiểu Long đây”. Thế là! có rất nhiều thanh niên khác – không được như là Lý Tiểu Long – đã xông đến kiểm tra xem có đúng là Lý Tiểu Long thật hay không? Đương nhiên! anh bạn này được một bài học nhớ đời! vì nếu có là Lý Tiểu Long thật thì cũng khó có thể cùng lúc chiến đấu với rất nhiều Lý Tiểu Long giả! Chàng ta đã có cảm hứng muốn mình là một Lý Tiểu Long thật! Nếu có điều kiện thì nhà nghiên cứu gặp được người đã từng hô to lên đó – “Ta là Lý Tiểu Long đây” – để khảo sát xem rằng sau vụ đó thì người này có còn tiếp tục mắc “lỗi mô phỏng” đó nữa hay không!?

     Chỉ có con người mới có thể là kiến trúc sư – của chính mình – để có khả năng hiện thực hoá được sự mô phỏng qua bản vẽ hay qua một quá trình nào đó để hiện thực có thể được hiện ra một cách rõ ràng. Song! không phải bản vẽ nào cũng trở thành hiện thực! Những bản vẽ sai lầm sẽ gây ra những hậu quả không lường! Những hiện thực đau lòng, đáng thương có thể đều xuất phát từ những lỗi mô phỏng!? Người ta luôn ham muốn vượt quá thực tế và luôn bị kích thích bởi ngoại cảnh để mong muốn làm được những điều ở ngoài tầm với của mình.

     Trong thời đại hiện nay, các hình ảnh ảo, hình ảnh thực luôn tác động liên tục  và tức thì đến mỗi người; nó thường khích lệ người ta mô phỏng theo cách sai lệch. Sự mô phỏng đúng thì chưa chắc trở thành hiện thực; sự mô phỏng sai thì đương nhiên là thất bại! Thất bại của một cá nhân đã rất đau sót! còn thất bại của một số đông lại còn ‘thảm hoạ’ nhiều hơn! Rất may! là loài người đã phát minh ra mô hình Nghị viện 4, cũng như đã nghĩ ra phương pháp phản biện để các mô phỏng đều có khả năng hiện thực và đều có ích cho mình mà lại không gây hại cho người khác. Ở tầm toàn cầu! thì đã có mô hình Liên Hiệp quốc 5 có năng lực điều hòa được những mô phỏng chung của loài người. Nhưng! các mô phỏng riêng hay các tính toán riêng của từng quốc gia, nhóm quốc gia, hay nhóm lợi ích toàn cầu, lợi ích của những nước lớn có thể chỉ tính đến lợi ích riêng của mình mà không hài hòa với lợi ích chung của toàn cầu, lợi ích chung của những người đang sống chung trên quả đất này. Các quốc gia dân tộc nhỏ bé, yếu thế có thể bị các nước lớn tạo cớ lấn lướt, xâm lăng, chiếm đóng! Lịch sử loài người đã ghi lại rất nhiều đế chế phải sụp đổ vì sự tham lam ảo vọng, vì sự mô phỏng sai lệch của những người có quyền lực, những người điều hành các đế chế đó!

CHÚ GIẢI :

1:  ĐÀO VĂN SOẠN  – Tác giả – Độc giả – ở xã Xuân Cảnh, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên – gửi bài qua email bantuthu1965@gmail.com

2Homo sapiensNgười tinh khôn: là loài người hiện nay trên Trái Đất. Tên Homo sapiens có nguồn gốc từ tiếng La-tinh là “homo(nghĩa là Người, tổ tiên cuối cùng là Người vượn khoảng 10 đến 2 triệu năm trước) và “sapien(nghĩa là tinh khôn, thông minh, đứng thẳng vào khoảng 1,8 đến 0,2 triệu năm trước). Đây là loài duy nhất còn tồn tại trong chi Homo (chi Người) thuộc họ Người (những loài người khác cùng Chi này như: Người khéo léo /Homo habilis, Người đứng thẳng /Homo erectus, Người lùn /Homo floresiensis, Người Heidelberg /Homo heidelbergensis, Người Neanderthal /Homo neanderthalensis, … và có thể còn nhiều loài khác chưa được phát hiện vì đã bị tuyệt chủng – như Homo sapiens idaltu, những họ hàng hiện tại trong phân họ Homininae như tinh tinh, tinh tinh lùn, khỉ đột, và các loài có liên quan thuộc tông Người /Hominin). Loài người hiện đại có tên đầy đủ là “Người hiện đại về giải phẫu” /Homo sapiens sapiens.

     Tên gọi Homo sapiens (H. s.) được Carl Linnaeus đặt ra vào năm 1758. Danh từ homō là danh từ La-tinh (có thuộc cách hominis) có nghĩa là “người đàn ông”, “con người“. Linnaeus công nhận có 4 phân loài còn sinh tồn là H. s. afer (người châu Phi), H. s. americanus (người châu Mỹ), H. s. asiaticus (người châu Á)H. s. ferus (chủng Mã Lai; riêng H. s. tasmanianus là thổ dân Australia, Homo neanderthalensis là người Neanderthal, …).

     Người tinh khôn có đặc trưng là trí tuệ phát triển với thể tích bộ não có tỉ lệ – so với thể tích cơ thể – là lớn nhất trong giới động vật; nó có dáng đứng thẳng hoàn toàn và hai chi sau (chân) đảm nhiệm sự vận chuyển, hai chi trước trở thành tay – là cơ quan lao động và chế tạo công cụ lao động. Sự thông minh và khả năng thích ứng của Người tinh khôn đã khiến cho loài này có một sự ảnh hưởng lớn nhất đến cuộc sống trên Trái Đất.

     Có hai quan điểm khác nhau trong cổ nhân loại học về nguồn gốc của H. s: đó là Thuyết nguồn gốc châu Phi gần đây (do kết quả nghiên cứu gen Người vào năm 2010) Thuyết nguồn gốc đa khu vực.

     Thuyết nguồn gốc châu Phi gần đây cho rằng con người có nguồn gốc duy nhất ở Châu Phi vào khoảng 200.000 năm trước và một nhánh đã rời đi từ khoảng 270.000 năm trước (theo Sách Nguồn gốc loài Người của Charles Darwin năm 1871).

     Thuyết nguồn gốc đa khu vực – được đề xuất bởi Darien H. Wolpoff vào năm 1988 – cung cấp một sự giải thích cho các mô hình tiến hóa của loài người – rằng từ đầu thiên kỷ Pleistocen (khoảng 2,5 triệu năm trước) cho đến ngày nay thì H. s. là thuộc về một loài người duy nhất và liên tục, tiến hóa trên khắp thế giới để trở thành người Homo sapiens sapiens.

     Các công trình nghiên cứu đã định vị được khởi nguồn của cuộc di cư của loài người hiện đại là ở phía Tây nam châu Phi – gần vùng duyên hải biên giới giữa hai quốc gia NamibiaAngola.

3Lý Tiểu Long: tên thật là Lý Chấn Phiên (hay Bruce Lee) (27/11/1940, San Francisco, California, Hoa Kỳ – 20/7/1973, Tòa nhà Beverly, Cửu Long Đường, Hồng Kông thuộc Anh, hưởng dương 33 tuổi), là một nam diễn viên võ thuật, đạo diễn, nhà biên kịch kiêm nhà sản xuất điện ảnh người Mỹ gốc Hoa (người Quảng Đông) nổi tiếng trong nền điện ảnh Hoa Kỳ, đồng thời là võ sư sáng lập võ phái Triệt quyền đạo.

     Khi còn nhỏ, ông rất ốm yếu nên bố đã dạy cho ông võ Thái cực quyền để rèn luyện sức khoẻ. Ông đã vào học tại Trường tiểu học St. Mary’s Canossian College., Trường Đức Tin (Tak Sun School, năm 1949), Trường trung học Công giáo La Salle College, Trường St. Francis Xavier’s College, Trường Trung học Công nghệ Edison. Ông đã từng bị đuổi học (năm lớp 4) do đánh nhau và vắng mặt nhiều lần. Ông đã đóng vai đầu tiên (năm 1946, lúc 6 tuổi) trong phim The Beginning of a Boy, và sau đó khoảng 20 phimnhư các phim The Birth of Mankind, My Son và Ah Cheun, The Orphan, ‘The Green Hornet (năm 1966), Đường Sơn đại huynh (năm 1971), Tinh Võ Môn (năm 1971), Mãnh Long Quá Giang (năm 1972), Long tranh hổ đấu (năm 1973), Tuyệt đỉnh Kungfu, Trò chơi tử thần (năm 1973), v.v… Ông học võ Vịnh Xuân quyền (năm 1953) với danh sư Diệp Vấn (về sau là Trưởng môn phái Vịnh Xuân quyền Hồng Kông). Ông còn học vũ đạo (năm 1954) và từng đạt Giải quán quân Vũ điệu cha-cha-cha cấp toàn lục địa (năm 1958). Ông còn tham gia Giải quyền Anh và đánh bại David Kefield (đương kim vô địch trong 3 năm liền).

     Do có xích mích với Hội Tam Hoàng (năm 1959), ông bị cảnh sát Hồng Kông điều tra nên bố mẹ ông đã quyết định đưa ông sang sống với một người bạn cũ ở Mỹ. Ông sống trong một phòng nhỏ trên gác của nhà hàng và làm bồi bàn để mưu sinh ở Washington. Ông bắt đầu dạy võ ở sân sau nhà, ở công viên thành phố và dạy Kungfu cho sinh viên. Ông đã phấn đấu vào học Khoa Triết học của Trường Đại học Washington (năm 1961).

     Ông đã trở về Hồng Kông (năm 1963) để thăm gia đình và quay lại với Diệp Vấn để xin học nốt phần cuối của bài Mộc nhân thung nhưng bị từ chối. Ông chuyển qua học Tinh võ hội tiết quyền, Thất tinh Đường lang băng bộ quyền, v.v….

     Ông quay lại Seattle, Mỹ và bắt đầu mở Trấn Phan Võ Quán (năm 1963). Ông phát triển Thốn quyền (một kĩ thuật đặc thù của “đoản kiều phát lực” trong võ phái Vịnh Xuân quyền) và mở “Trấn Phan Võ Quán” thứ hai tại Oakland, California (năm 1964), Trấn Phan Võ Quán” thứ ba tại Khu phố Tàu thành phố Los Angeles (năm 1966). Ông đã biểu diễn đòn Nhất Thốn quyền và hít đất với 2 ngón tay.

Ông đã được Dozier mời đến Los Angeles, California để diễn thử vai. Ông đã kết hôn (năm 1964) với Linda Emery và về sống ở Oakland.

     Ông đã nhận lời thách đấu (năm 1965) của Hoàng Trạch Dân (Wong Jack-man, một thầy dạy Kungfu tại khu phố Tàu) với điều kiện là ông phải đóng cửa võ quán của mình và ngưng dạy những người da trắng nếu Long thua (còn nếu Jack thua thì cũng phải ngừng dạy võ); và, ông đã đánh bại kẻ thù chỉ trong giây lát.

     Môn võ Triệt quyền đạo (Jeet Kune Do) với “Nghệ thuật chiến đấu bằng cách chặn đứng đòn tấn công của đối phương” đã được ông cho ra đời. Triệt Quyền Đạo – mà ông gọi là Kungfu  – tổng hợp nhiều đòn thế của nhiều môn phái như quyền Anh phương Tây, muay Thái, Karate Nhật Bản, Taekwondo Hàn Quốc, võ Trung Hoa – Hồng Gia Quyền, Vịnh Xuân Quyền (đặc biệt nhấn mạnh các kỹ thuật của bài Mộc nhân thung cải cách) và kể cả nghệ thuật khiêu vũ của Châu Mỹ. Ông đã biểu diễn Triệt Quyền Đạo tại Giải thi đấu Karate quốc tế Mỹ (năm 1967) khi mời Vic Moore (nhà vô địch karate người Mỹ) thử ngón đòn mà khiến ông ta phải lắc đầu bái phục. Giới truyền thông Mỹ đã phong tặng Long danh hiệu Người tạo nên Cách mạng trong Thế giới võ thuật.

4Nghị viện hay Nghị hội, là một loại hình thái của cơ quan lập pháp, do các đại biểu – với số lượng nhất định – được người dân bầu ra mà hợp thành nhằm nắm giữ quyền lập pháp. Các vị đại biểu này gọi là Nghị sĩ – có thể được thông qua nhờ bầu cử trực tiếp hoặc bầu cử gián tiếp và cũng có thể do Nhà nước uỷ nhiệm. Nghị viện bắt nguồn từ cổ xưa qua các hội họp của các vị tù trưởng của các bộ lạc nguyên thuỷ (như đại hội Kurultai của người Mông Cổ), các thành bang Hi Lạp (như Athenas), Viện nguyên lão của nước Cộng hoà La MãNghị viện Anh Quốc (năm 1265).

5Liên Hợp Quốc (United Nations, UN) là một tổ chức liên chính phủ có nhiệm vụ duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia, thực hiện sự hợp tác quốc tế, làm trung tâm điều hòa các nỗ lực quốc tế và các mục tiêu chung. Liên Hợp Quốc (LHQ) được thành lập vào cuối Thế chiến II (ngày 24/10/1945) tại San Francisco với 51 quốc gia thành viên đầu tiên (hiện nay có 193 thành viên và 2 quan sát viên – Tòa thánh Vatican và Nhà nước Palestine). Tiền thân của Liên Hợp QuốcHội Quốc Liên (League of Nations), vốn là một sáng kiến của Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson sau Thế chiến I.

     LHQ có sáu cơ quan chính: Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an, Hội đồng kinh tế xã hội, Hội đồng quản thác, Tòa án Công lý Quốc tế và Ban thư ký LHQ. Có 12 cơ quan thuộc Hệ thống LHQ, bao gồm:  Ngân hàng Thế giới (World Bank ‒ WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund ‒ IMF), Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization ‒ WHO), Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (World Intellectual Property Organization ‒ WIPO), Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc (United Nations Human Rights Council ‒ UNHRC), Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (United Nations International Children’s Emergency Fund ‒ UNICEF), Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organization ‒ ILO), Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (Food and Agriculture Organization of the United Nations ‒ FAO), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc ̣(UNESCO), Lực lượng Gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc (Department Of Peacekeeping Operations ‒ DPKO).

      Tòa nhà trụ sở của LHQ hiện nay (tại số 760 United Nations Plaza, New York, NY 10017, USA) được xây dựng trên một khu đất rộng 16 acre tại thành phố New York (năm 1949-1950). Khu đất này do John D. Rockefeller mua (với giá 8.5 triệu USD) và tặng cho LHQ. Trụ sở được thiết kế bởi một đội kiến trúc sư quốc tế bao gồm Le Corbusier (Thuỵ Sĩ), Oscar Niemeyer (Brasil), Wallace K. Harrison, …

     LHQ sử dụng 6 ngôn ngữ chính trong công việc hành chính: tiếng Anh (52 quốc gia thành viên sử dụng), Pháp (29 quốc gia thành viên sử dụng), Nga (4 quốc gia thành viên sử dụng), Tây Ban Nha (20 quốc gia thành viên sử dụng), Ả Rập (từ năm 1973, 24 quốc gia thành viên sử dụng), Trung Hoa – giản thể (2 quốc gia thành viên sử dụng); tiếng Hindi đang được dự kiến thêm vào; Ban Thư ký chỉ sử dụng 2 ngôn ngữ: tiếng Anh (đánh vần theo Oxford) và Pháp.

GHI CHÚ :
◊  Các chữ nghiêng, chữ in, chú giải, hình ảnh minh hoạ và một số ‘hiệu đính nhẹ‘ do Ban Tu Thư vietnamhoc.net thực hiện.
◊  Văn bản gốc có thể xem tại mục “Trao đổi cùng Quý độc giả“: Về TƯƠNG LAI HỌC & một số vấn đề khác.

BAN TU THƯ
5 /2022

(Visited 31 times, 1 visits today)